Biết thời làm biết

Học thuật
Thân thiện
Định nghĩa
  1. Thành ngữ:
    • Biết giới hạn hiểu biết của mình: "Biết thời làm biết" một thành ngữ Hán Việt, có nghĩabiết cái thì nhận biết, không biết cái thì nhận không biết. Đây thái độ chân thực khôn ngoan trong học vấn nhận thức, thể hiện sự hiểu biết đúng đắn về phạm vi kiến thức của bản thân.
dụ sử dụng
  • Thành ngữ:
    • Một nhà khoa học chân chính luôn giữ thái độ "biết thời làm biết", không bao giờ nói những điều mình chưa chắc chắn.
    • Trong buổi thảo luận, anh ấy đã thể hiện tinh thần "biết thời làm biết" khi thẳng thắn thừa nhận mình chưa nghiên cứu sâu về vấn đề đó.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Biết thời làm biết" như một nguyên tắc học thuật: Thành ngữ này thường được dùng để nhấn mạnh đức tính trung thực thận trọng trong nghiên cứu, học tập.

    • Nguyên tắc "biết thời làm biết" nền tảng của tinh thần khoa học, đòi hỏi sự chính xác khiêm tốn.
  • Ứng dụng trong đối nhân xử thế: Thành ngữ cũng có thể ám chỉ cách ứng xử khôn ngoan, biết mình biết ta.

    • Ông ấy sống theo phương châm "biết thời làm biết", nên luôn được mọi người tin cậy kính trọng.
Biến thể từ gần giống
  • Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri : Đây câu gốc trong sách Luận Ngữ, từ đó thành ngữ "biết thời làm biết" được rút ra sử dụng phổ biến trong tiếng Việt. Nghĩa là: Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, thế mới thật biết.
Từ đồng nghĩa
  • Khiêm tốn học hỏi: thái độ cầu thị, không tự cho mình biết hết.
  • Thành thực với bản thân: Nhìn nhận đúng năng lực hiểu biết của chính mình.
Thành ngữ liên quan
  • Biết mình biết ta: Hiểu bản thân hiểu đối phương (thường dùng trong binh pháp, nhưng cũng có thể áp dụng chung).

    • Muốn thành công trong đàm phán, trước hết phải "biết mình biết ta".
  • Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột nghe: Một câu tục ngữ Việt Nam ý nghĩa tương tự, khuyên người ta chỉ nên phát biểu về những điều mình thực sự hiểu .

    • Cậu nên nhớ câu "biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột nghe" để tránh nói sai.
  1. Luận ngữ: Tử viết: "Do hối nhữ tri chi hồ ? tri chi vi tri chi, bất tri chi vi bất tri chi, thị chi giã" (Tử Do dạy cho người cách hiểu biết chăng ? Biết cái thời nhận biết, chẳng biết cái thì nhận chẳng biết, như thếbiết vậy.)